Tiếng Việt  English
23 Tháng Bảy 2014
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

SÁCH KỸ THUẬT

 

TÀI LIỆU KHUYẾN NÔNG

 

 

 

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Số Người Truy Cập

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

Nghiên cứu được tiến hành để xác định ảnh hưởng di truyền của QTL quy định tính trạng chịu nóng ở giai đoạn ra hoa của lúa trồng. Một quần thể lai tạo gồm 279 cá thể ở thế hệ F2 giữa giống lúa cho gene chịu nóng ký hiệu 996 và giống tái tục mẫn cảm ký hiệu 4628 được tạo ra để phân tích sựp hân ly di truyền trong điều kiện nhiệt độ tối ưu và nhiệt độ cao.

Kết quả cho thấy sự phân ly trong quần thể F2 theo mô hình chuẩn (normal distribution) từ đó có thể kết luận di truyền tính trạng chịu nóng được quy định đa gene.

Read More »

bò gen PIT1 có trọng lượng phân tử khoảng 33 kDa, nằm trên nhiễm sắc thể số 1 (BTA1) và ở giữa nằm giữa TGLA57 và RM95 bao gồm 6 exon mã hóa cho chuỗi polypeptide gồm 291 axit amin (Bodner và cs, 1988; Moody et al, 1995). cDNA của gen Pit-1 đã được phân tích trình tự trên nhiều loài khác nhau (Tatsumi và cs, 1992; Wong và cs, 1992; Yamada và cs, 1993). Nhiều công trình nghiên cứu về gen trên Bò đã công bố có liên quan đến trọng lượng cơ thể, tăng trọng trung bình hàng ngày (Renaville và cs, 1997a; Carrijo và cs,. 2008) và tính trạng sản xuất sữa (Renaville và cs, 1997b.; de Mattos và cs, 2004; Xue và cs, 2006).

Read More »

Độ mở của vòi nhụy (stigma exsertion) là tính trạng rất quan trọng đến khả năng nhận phấn ngoài góp phần làm tăng năng suất hạt lai F1 trong sản xuất hạt giống lúa lai.

Để xác định gene quy định tính trạng này, một quần thể được tạo ra giữa giống lúa Indinca IR24 (giống cho gene) và nền di truyền là giống lúa Japonica Koshihikari. Kết quả đã xác định được QTL ký hiệu qES3 nằm gần tâm động trên nhiễm sắc thể số 3.

 

Read More »

Quá trình tăng trưởng ở động vật được điều khiển bởi một hệ thống phức tạp, trong đó trục somatotropic đóng một vai trò quan trọng. Các gen hoạt động ở trên trục somatotropic chịu trách nhiệm sinh tăng trưởng, mà chủ yếu là GH đã tác động lên sự phát triển của xương và cơ và  được xác định là các gen chủ yếu trong quá trình sinh học và đóng một vai trò quan trọng trong việc điều hòa sự tăng trưởng và phát triển (Tuggle và Trenkle., 1996; Hossner và cs., 1997; Breier., 1999; Ge và cs., 2000; Ge và cs., 2003). Ảnh hưởng của GH về tăng trưởng có thể quan sát thấy một số trong các mô, bao gồm xương, cơ bắp và mô mỡ.

Read More »

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên heo (PRRS) và hội chứng còi cọc trên heo do Circovirus type 2 (PCV2) gây ra là bệnh truyền nhiễm trên heo mọi lứa tuổi. PRRS tấn công vào đại thực bào, gây nhiễm toàn cơ thể, trong gian dài, tuy đáp ứng miễn dịch chậm nhưng toàn diện do vậy dùng vaccine chưa thấy hiệu quả. Trong khi đó PCV2 tấn công vào nhiều tế bào trong đó có hạch bạch huyết và cũng gây nhiễm toàn thân, miễn dịch của gia súc không loại bỏ mầm bệnh, nhưng dùng vaccine phòng bệnh thấy có hiệu quả. Tìm hiểu sự tương tác của hai virus này với các mầm bệnh khác cho thấy PRRSv là tác nhân gây bệnh trực tiếp trong khi đó PCV2 cần có những yếu tố khác để gây bệnh và sự nhiễm bệnh thay đổi từ không biểu hiện lâm sàng, rồi đến cận lâm sàng.

Read More »

Kỹ thuật OPU đã thực hiện thành công trên bò ở các giai đoạn sinh lý khác nhau: bò tơ trước khi thành thục (Brogliatti và ctv, 1996), bò đang mang thai (Meintjes và ctv, 1995), giai đoạn sớm sau khi sinh hay giai đoạn đã động dục sau khi sinh (Yoshihiko và ctv, 2004). Nhìn chung, kỹ thuật OPU có thể thực hiện trên bò từ giai đoạn 6 tháng tuổi đến khi mang thai thứ ba, và ngay từ 2-3 tuần sau khi sinh (Galli và Lazzari, 2005). Kỹ thuật OPU trên bò tơ có thể thực hiện 2 lần/tuần, trong 4 tháng liên tục mà vẫn không ảnh hưởng đến sức khỏe của bò cái, các chỉ tiêu sinh lý trong và sau giai đoạn thực hiện OPU vẫn bình thường, tương tự như giai đoạn trước khi thực hiện OPU (Petyim và ctv, 2000).

Read More »

Một số người cho rằng các bài báo đăng trên Tạp chí quốc tế có chất lượng ngang nhau (không cần biết đó là tạp chí quốc tế gì?) và vì vậy cần cho điểm như nhau, cũng như chia đều điểm cho tất cả những người có tên trong bài báo. Tác giả Nguyễn Văn Tuấn đã bình luận vấn đề này trên website Y Khoa Việt Nam, xin được trích dẫn để mọi người tham khảo thêm.

Thứ nhất là cách tính điểm bài báo khoa học.  Theo qui định mới, "bài báo khoa học đặc biệt xuất sắc được đăng trên các tạp chí hàng đầu quốc tế và Việt Nam được nhiều người trích dẫn" có điểm tối đa là 2.  Ở đây có hai vấn đề.  Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều tập san khoa học (khoảng 108.000 tập san và con số vẫn gia tăng) với chất lượng thượng vàng hạ cám, dù chúng đều có danh xưng “quốc tế” đâu đó trong tên gọi.  Để sàng lọc thật và giả, Viện thông tin khoa học (Mĩ) căn cứ vào một số tiêu chuẩn về hoạt động và thời gian lập nên một danh sách chỉ trên dưới 5000 tập san (chưa đến 5%) mà giới chuyên môn công nhận là “nghiêm chỉnh”. Viện thông tin khoa học còn phát triển một chỉ số để đánh giá chất lượng của một tập san, và chỉ số đó có tên là "hệ số ảnh hưởng" (impact factor, IF).  Chỉ số IF dao động từ 0 đến 80 giữa các tập san.  Nói chung, tập san có IF cao cũng là tập san có uy tín cao và ảnh hưởng lớn hơn các tập san có IF thấp.  Nhưng IF còn tùy thuộc vào bộ môn khoa học, với những bộ môn thực nghiệm thường có IF cao hơn các bộ môn như xã hội học và toán học.  Theo tôi biết, chưa có một tập san khoa học nào của Việt Nam có chỉ số IF.

 

Read More »

Trong kỹ thuật sản xuất phôi bò invitro, hai nguyên liệu cực kỳ quan trọng là trứng (Oocyte) và tinh trùng (Sperm). Tuy nhiên, vấn đề khó khăn hiện nay của sản xuất phôi bò invitro trong nước là khó tìm nguồn trứng ổn định và có chất lượng tốt, trong khi đó nguồn cung cấp tinh bò chất lượng cao là khá ổn định và phong phú. Một trong những kỹ thuật có thể giúp cung cấp nguồn trứng ổn định và chất lượng tốt là kỹ thuật thu trứng trên buồng trứng của thú sống (Ovum Pick-Up – OPU hay Transvaginal Ultrasound Guided Oocyte-Aspiration - TUGA).

Read More »

Một trại heo có quy mô 500 nái ở vùng Đông Nam Á và một số trại heo xung quanh đã xảy ra dịch FMD. Tại trại này đã xảy một loạt các vấn đề về sức khỏe trên đàn heo, bao gồm bị nhiễm virus suy giảm hệ miễn dịch, sốt cổ điển và hội chứng sinh sản hô hấp (bệnh tai xanh), mặc dù các bệnh này đã được kiểm soát một phần nhờ tiêm phòng vắc xin. Trại heo bị nhiễm FMD nằm trong vùng đã có một số trại bò và dê bị nhiễm FMD. FMD thường xảy ra trong mùa mưa, thời điểm có nhiều sự di chuyển đàn bò trong vùng và các trại đã được tiêm phòng vắc xin FMD theo chương trình của địa phương.

Read More »

1 - 10 of 338   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 

 

 

 

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết