Tiếng Việt  English
03 Tháng Chín 2014
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

SÁCH KỸ THUẬT

 

TÀI LIỆU KHUYẾN NÔNG

 

 

 

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Số Người Truy Cập

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

Phần 3. Ảnh hưởng của kiểu gene H-FABP lên tỷ lệ mỡ giắt

Các kết quả nghiên cứu này cho thấy trong quần thể heo, các nhiễm sắc thể khác nhau đều chứa các QTL ảnh hưởng đến mỡ giắt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu các QTL có thể thay đổi tùy thuộc vào phương pháp phân tích cũng như cấu trúc di truyền của quần thể khảo sát. Mặc dù, các nghiên cứu đã đưa ra một số quan điểm khác nhau về vị trí QTL trên nhiễm sắc thể, song phần lớn các tác giả đều cho rằng nhiễm sắc thể số 6 chứa một hoặc 2 QTL ảnh hưởng đến biến động di truyền của hàm hượng mỡ giắt trong thăn thịt heo. Như vậy, các vùng QTL trong các nghiên cứu vẫn còn quá rộng để nhận dạng các gene ứng cử. Để giải quyết nhược điểm này nhiều nghiên cứu đã xác định được các gene ứng cử viên. Các gene ảnh hưởng đến thành phần mỡ giắt đã được khám phá, bao gồm H-FABP, A-FABP, ADRP, LERP, MC4R, ADD1, MYOD, trong đó gene H-FABP được quan tâm nhiều nhất.

 

Read More »

Ý nghĩa của nghiên cứu:

Giả thuyết Red Queen cho rằng các gen có chức năng trong phản ứng tự vệ của cây chủ đã tiến hóa để chống lại các ảnh hưởng bất lợi của virus gây bệnh, vì chúng cũng đang trong quá trình tiến hóa nhanh chóng. Cho dù cấu trúc 3D của các phức protein giữa cây chủ và virus đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết vô cùng to lớn về các xung đột ở mức độ phân tử giữa chúng, nhưng thật ra chỉ có một cấu trúc đơn biểu trưng cho một snapshot (kiểu cấu trúc bất chợt nào đó) có tính chất tiến hóa. Tác giả đã giới thiệu những chi tiết cở mức độ nguyên tử của cái gọi là “step-by-step arms race” (nòi virus xếp theo cây phân nhánh từng bước một) giữa protein có tính chất tự tái bản của virus gây bệnh khảm và protein có tính chất ức chế của cây chủ Tm-1, trong đó, sự phát hiện của cây chủ  đối với một phân tử virus (viral molecule), đối với sự xâm nhiễm có tính chất tương hợp của virus (viral adaptive evasion), sự phản ứng chống lại có tính chất tương hợp của cây chủ, và phản ứng chống lại của virus đã được miêu tả khá kỹ thông qua việc xác định những cấu trúc vô cùng phức tạp ấy của những biến thể Tm-1 (Tm-1 variants) và protein của virus. Người ta còn thông qua các phân tích sinh hóa và phương pháp mô phỏng động thái ở mức độ phân tử của các tương tác giữa những protein như vậy.

 

 

Read More »

Phần 2. Vai trò của gen H-FABP trong điều hòa tỷ lệ mỡ giắt.

Phospholipid và triacylglycerol là hai thành phần chính đóng góp vào tỷ lệ mỡ giắt trong thân thịt. Phospholipid là thành phần chính của màng tế bào nên hàm lượng không thay đổi, do đó khi tăng hàm lượng mỡ giắt trong các tế bào sẽ làm tăng hàm lượng mỡ giắt trong các mô cơ (Zheng và Mei, 2009). Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định các gen liên quan đến quá trình di truyền chuyển hóa triacylglycerol và hàm lượng mỡ giắt trong các mô cơ. Nhiều tác giả đã báo cáo rằng gen H-FABP (Heart Fatty Acid-Binding Protein) nằm trên nhiễm sắc thể số 6 là gen ảnh hưởng chính đến quá trình chuyển hóa triacylglycerol qua màng tế bào vào trong cơ (Gerbens và cs, 1997, 1999, 2001; De Vries và cs, 2000; Ovilo và cs, 2000; Cho và cs, 2009).

Read More »

Các nhà khoa học trường Virginia Tech đã phát hiện một “ngôn ngữ” phân tử mới có thể được thực vật sử dụng để giao thiệp, trao đổi một số thông tin di truyền bất thường với nhau, đã mở ra cánh cửa cho một lĩnh vực khoa học mới nhằm khám phá cách thức các thực vật giao thiệp với nhau ở mức độ phân tử.

Đứng đầu nhóm nghiên cứu là Jim Westwood, một giáo sư bệnh học thực vật, sinh lý học trường College of Agriculture and Life Sciences. Westwood nói rằng: “Khám phá hình thức mới lạ này về sự giao thiệp giữa các sinh vật với nhau cho thấy điều này xảy ra với số lượng rất lớn so với những gì mà người ta đã biết. Bây giờ chúng tôi đã phát hiện ra chúng trao đổi tấc cả thông tin này, vậy câu hỏi đặt ra là: Chính xác chúng truyền đạt với nhau cái gì?” 

Nghiên cứu nãy cũng giúp các nhà khoa học có một cái nhìn mới về cách chống lại các loại cỏ dại ký sinh gây hại đến cây lương thực ở một số vùng nghèo nhất thế giới, giúp giải quyết vấn đề khan hiếm lương thực. Westwood kiểm tra mối quan hệ giữa thực vật ký sinh (dây tơ hồng) và hai cây chủ (Arabidopsis và cây cà chua).Để hút nước và dinh dưỡng từ cây chủ, dây tơ hồng sử dụng một phần phụ được gọi là giác mút (haustorium) để xuyên thủng thân cây chủ. Westwood đã phá vỡ một vùng mới trên thân cây sau đó ông ta phát hiện ra, sự tương tác qua lại trong quá trình ký sinh, có sự vận chuyển RNA giữa 2 loài với nhau. RNA phiên mã thông tin thông qua DNA, đó là bản thiết kế tinh vi của sinh vật.

Read More »

Trong báo cáo công nghệ sinh học năm 2014, người ta đã ghi nhận kết quả nghiên cứu và khả năng thị trường. Báo cáo mô tả và đánh giá công nghệ sinh học động vật và những ứng dụng của chúng trong thuốc thú y và bệnh học cũng như thức ăn chăn nuôi. Kết quả này bao gồm nhiều tóm lược của hơn 100 công ty có liên quan đến lĩnh vực công nghệ sinh học động vật, và các hoạt động nghiên cứu của 11 Viện liên quan đến thú y và chăn nuôi. Theo đó, công nghệ sinh học có tiềm năng áp dụng trong quản lý nhiều bệnh tật của gia súc ví dụ như bệnh lỡ mồm long móng (FMD), bệnh sốt của heo (classical swine fever), cúm gia cầm (avian flu), và bệnh bại não bò (bovine spongiform encephalopathy). Sản phẩm nổi bật về biotech là các vaccines, đặc biệt vaccin tái tổ hợp di truyền hoặc DNA vaccines. Liệu pháp gen để trị bệnh gia súc cũng tiến bộ rất đáng kể bởi vì các giải pháp lâm sàng cho người đã được phát triển trên cơ sở vận dụng trên động vật thử nghiệm, hơn nữa có nhiều bệnh của người giống với bệnh của chó, mèo. Thuốc thú y đang được sử dụng trên cơ sở công nghệ phân tử RNA can thiệp.

Xem: http://www.researchandmarkets.com/reports/39075/animal_biotechnology_technologies_markets_and.pdf.

Lược dịch: Bùi Chí Bửu

Read More »

Bộ gen lúa Oryza glaberrima vừa được giải mã toàn bộ genome với sự cộng tác của nhiều nhà khoa học quốc tế, là sự kiện quan trọng trong khoa học cây lúa năm 2014.

Kết quả này cho phép các nhà  khoa học sẽ có điều kiện tốt hơn để chọn tạo giống lúa chống chịu với stress do những khắc nghiệt của môi trường và đối mặt với các thách thức về an ninh lương thực. Glaberrima xuất phát từ chữ “glabrous” có nghĩa là trơn láng, thể hiện ở phiến lá lúa, võ trấu, giúp cây lúa có thể quan hợp trong điều kiện bị ngập do nước đục, lá lúa trơn láng làm các chất lắng đọng khó bám được vào phiến lá. Nó là quá trình tiến hóa từ Oryza longistaminata, O. barthii, O. brevigulata để trở thành lúa trồng Châu Phi Oryza glaberrima, với sự đa dạng di truyền tuyệt vời.

 

Read More »

Sử dụng tinh giới tính có nhược điểm là tỷ lệ thụ thai thấp hơn so với tinh bình thường (Seidel, 1999 Sartori và cs, 2004; Seidel and Schenk, 2008). Một trong những nguyên nhân là do nồng độ tinh trùng trong tinh giới tính khá thấp, khoảng 1,5-2,0 triệu tinh trùng/liều tinh, trong khi nồng độ tinh trùng trong tinh bình thường là khoảng hơn 10 triệu/liều tinh. Tuy nhiên, khi nâng số lượng tinh trùng (đã phân tách X và Y) trong 1 liều tinh dịch ngang bằng với loại tinh không phân tách thì tỷ lệ thụ thai đã được cải thiện đáng kể (khoảng 60-80% so với sử dụng tinh dịch không phân tách) (Seidel, 1999; Doyle và ctv, 1999). Ngoài ra, nhược điểm này còn là do khả năng sống của tinh trùng trong tinh giới tính đã bị giảm thấp do quá trình phân tách (Seidel và Garner, 2002) và sau khi bảo quản đông lạnh sâu (Schenk, 1999). Một số yếu tố giúp cải thiện tỷ lệ thụ thai khi sử dụng tinh giới tính trong gieo tinh nhân tạo là:

 

Read More »

Phần 1. Vai trò của mỡ giắt (Intramuscular Fat) trong chất lượng thịt heo
Trong vòng 40 năm qua, quá trình chọn lọc giống và thức ăn nuôi dưỡng theo hướng tăng tỷ lệ nạc và giảm dày mỡ lưng đã kéo theo làm giảm chất béo trong thịt (De Vries và cs, 1994; Borzuta, 2002; Rosner và cs, 2003). Chất béo trong thịt được gọi là mỡ giắt (Intramuscular Fat -  IMF), nằm xen kẽ trong mô cơ, sợi và hạt mỡ trong cơ. Về mặt hóa học, mỡ giắt được cấu tạo chủ yếu từ các phân tử phospholid, triacylglycerol (cả mono và diacylglycerol), cholesterol và các axít béo tự do. (Zheng và Mei, 2009).  Nhiều nghiên cứu cho rằng hàm lượng mỡ giắt trong thân thịt có tương quan chặt chẽvới độ mềm (tenderness), vị (taste) và độ mọng nước (juiceness) của thịt (Bejerholm và Barton-Gade, 1986; Eikelenboom và cs, 1996; Wood và cs., 1996; Wichfacz và cs, 1998; Park và cs., 2001).

Read More »

Gen atp9 trong ty thể bộ của cây cà rốt bất dục đực và cà rốt hữu thụ khác biệt trạng thái heteroplasmy, sự phối hợp, cải biên hậu giải mã cũng như tích lũy sản phẩn RNA và protein của gen

 

Hiện tượng “petaloid cytoplasmic male-sterility” (bất dục đực cánh hoa) của cà rốt biểu hiện thông qua gen atp9 của ty thể bộ góp phần đáng kể vào sự biểu hiện của trình tự gen và tổ chức cơ quan sinh dục.

Trong cây cà rốt, tế bào chất Sp gây ra sự chuyển dạng nhị đực (stamens) trở thành cánh hoa (petal-like organs), trong khi cây cà rốt có tế bào chất dạng bình thường (N-cytoplasm) biểu hiện trạng thái hoa tự bình thường. Nghiên cứu của các tác giả nhằm định tính những đặc điểm của cả hai dạng tế bào chất như vậy đối với tổ chức cơ quan và sự thể hiện của gen atp9 trong ty thể bộ. Hai gen atp9 trong cây cà rốt, được báo cáo trước đó là chuyên tính đối với tế bào chất, thực ra, đó chính là điều kiện có tính chất dị bào chất mà thôi (heteroplasmic). Trong cây cà rốt có tế bào chất dạng Sp, kiểu gen atp9-1 trội so với kiểu gen atp9-3. Ở cây cà rốt có tế bào chất dạng N kết quả này ngược lại hoàn toàn. 

 

Read More »

Nghiên cứu được tiến hành để xác định ảnh hưởng di truyền của QTL quy định tính trạng chịu nóng ở giai đoạn ra hoa của lúa trồng. Một quần thể lai tạo gồm 279 cá thể ở thế hệ F2 giữa giống lúa cho gene chịu nóng ký hiệu 996 và giống tái tục mẫn cảm ký hiệu 4628 được tạo ra để phân tích sựp hân ly di truyền trong điều kiện nhiệt độ tối ưu và nhiệt độ cao.

Kết quả cho thấy sự phân ly trong quần thể F2 theo mô hình chuẩn (normal distribution) từ đó có thể kết luận di truyền tính trạng chịu nóng được quy định đa gene.

Read More »

1 - 10 of 347   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 

 

 

 

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết