Tiếng Việt  English
02 Tháng Mười 2014
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

SÁCH KỸ THUẬT

 

TÀI LIỆU KHUYẾN NÔNG

 

 

 

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Số Người Truy Cập

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

Nguồn cung sữa bò nguyên liệu trong nước mới đáp ứng 30% nhu cầu. Để đáp ứng, mỗi năm phải nhập khẩu khoảng 1,2 triệu tấn sản phẩm sữa (kể cả kem), năm 2013 phải chi 1,2 tỷ USD cho việc nhập khẩu này. Vì vậy, nghề nuôi bò sữa được xem là có đầu ra ổn định ngay tại thị trường trong nước.

 

Không nên nhân rộng ồ ạt

Tuy có thị trường rộng lớn trong nước khi nguồn sữa nguyên liệu tại chỗ mới đáp ứng 30% nhu cầu, nhưng nghề nuôi bò sữa không dễ dàng phát triển. Bài học về sự thoái trào nghề nuôi bò sữa cả nước đầu thập niên 2000 cho thấy, nếu việc nhân rộng mô hình nuôi bò sữa dạng nông hộ của TPHCM theo kiểu phong trào, thấy địa phương này nuôi bò sữa thì địa phương khác cũng đăng ký tham gia, chỉ làm cho nghề này bị thụt lùi khi hàng loạt địa phương thất bại. Bởi nuôi bò sữa khác hoàn toàn với nuôi heo hay gà. Việc tập huấn kiến thức, kỹ năng cho nông dân trước khi nuôi bị xem nhẹ, ngay cả đội ngũ thú y, dẫn tinh viên còn rất mỏng đã dẫn đến sự thất bại.

 

Read More »

Hiện chưa có một phương tiện hiệu quả để giải quyết tình trạng tỷ lệ chết cao ở heo con, ở Đan Mạch tỷ lệ chết trên heo con hiện nay khoảng 22-33%, tùy thuộc vào phương thức sản xuất truyền thống hay hữu cơ. Trong số đó, khoảng 20% số heo con bị chết có liên quan đến bệnh. Heo thường mang một dạng biến đổi di truyền ảnh hưởng lên sức khỏe và khả năng sống của chúng. Các nhà khoa học ở trường đại học Aarhus, Đan Mạch, đã phát triển một công cụ di truyền, tạo ra trong công tác giống, để giải quyết vấn đề này. Các nhà khoa học đã phát hiện ra gen MBL2 có liên quan đến khả năng chống chịu bệnh của heo con. Gene này mã hóa cho protein MBL (Mannose Binding Lectin), đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch, và có hai loại protein MBL là MBL-A và MBL-C. 

 

Read More »

Chọn lọc dựa trên việc tầm soát toàn bộ bộ gene (GWS-Genomic Wide Selection): thực chất sự ảnh hưởng khác nhau của các kiểu gene (cùng một gene) lên tính trạng quan tâm chính là do sự khác biệt về một hay nhiều nucleotide trong gene đó. Để cùng lúc xác định sự biểu hiện của tất cả các gene (hay tất cả các nucleotide được xác định trước) liên quan đến tính trạng quan tâm, người ta sử dụng hệ thống Microarray với các DNA chip. Phương pháp này cho phép xác định tất cả các SNP (Single Nucleotide Polymorphism) có liên quan đến tính trạng quan tâm, trên toàn bộ bộ gene. Tuy nhiên, phương pháp này đòi hỏi đầu tư cao và chưa dễ ứng dụng ngay. 

Read More »

Cải thiện di truyền của quần thể heo bản địa tại các nước đang phát triển vùng nhiệt đới có thể đóng góp thiết thực trong việc bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn gene địa phương.  Để có thể xây dựng được một chương trình nhân giống heo hiệu quả đòi hỏi  cần có kiến thức về các thông số di truyền của các tính trạng kinh tế quan trọng của đàn heo. Sự phân tích biến đổi của các thông số di truyền này đã được thực hiện dưới các điều kiện của vùng nhiệt đới và đã được công bố từ nắm 1974 đến 2009, điều này nhằm cung cấp liên tục sự ước lượng của các thông số di truyền. Các số liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm BLUP, vẫn chưa được phổ biến tại các nước đang phát triển. Chương trình chọn giống dựa trên bộ gene (genome) đã cung cấp một cách tiếp cận mới, giúp đạt được tiến bộ di truyền nhanh hơn, nhất là trong trường hợp chưa có một chương trình quản lý giống để thu thập đầy đủ các số liệu gia phả. 

 

Read More »

Việc ước lượng giá trị giống chỉ dựa trên kiểu gene cũng có một số bất cập. Cá thể có đầy đủ những kiểu gen tốt liên quan đến tính trạng quan tâm, nhưng chưa chắc hoàn toàn có kiểu hìnhnhư mong đợi. Bởi vì, kiểu hình là sự tương tác giữa kiểu gene và môi trường. Vì vậy, sự kết hợp giữa đánh giá kiểu gene và kiểu hình trong ước lượng giá trị giống là cần thiết. Đã có những sự kết hợp giữa các phương pháp đánh giá kiểu gene (MAS, GAS, GS) với đánh giá kiểu hình (BLUP) để hình thành các phương pháp MA-BLUP, GA-BLUP hay G-BLUP. Trong đó, hiện nay G-BLUP là phương pháp tốt nhất để ước lượng giá trị giống và được gọi là Ước lượng giá trị giống (dựa trên) bộ gen, GEBV (Genome/Genomic Estimated Breeding Value) (xem sơ đồ đính kèm).

Read More »

Gen kháng bệnh đạo ôn Pi54of được dòng hóa từ lúa hoang Oryza officinalis tương tác với Avr-Pi54 thông qua những domain mới của nó không có tính chất LRR.

Gen trội kháng bệnh đạo ôn của cây lúa Pi54 đã được dòng hóa thành công bằng phương pháp “map-based cloning” từ giống lúa indica Tẻ Tép, với phổ kháng bệnh rộng đối với vi nấm Magnaporthe oryzae. Trong nghiên cứu này, một phân tử đồng dạng (orthologue) của gen Pi54 được ký hiệu là Pi54of cũng đã được dòng hóa từ loài lúa hoang Oryza officinalis với mức độ kháng cao đối với vi nấm M. oryzae. Người ta đã minh chứng được chức năng của gen ấy. Nhóm tác giả đã định tính protein Pi54of và chứng minh được sự tương tác của nó với protein AVR-Pi54. Protein Pi54 có độ lớn phân tử được mã hóa là ∼43 kDa thuộc họ LRR nhỏ và độc nhất trong tế bào chất, biểu hiện tính chất protein kháng bệnh độc nhất với “Zinc finger domain” chồng lấp trên vùng “leucine rich repeat” (LRR). 

 

Read More »

Các chương trình chọn lọc cổ đin thường chỉ dựa vào các quan sát kiểu hình, tuy nhiên biện pháp này tỏ ra không hiệu quả trong một số trường hợp gen biểu hiện trễ hay chỉ trong một giới tính. Trong trường hợp này chọn lọc kiểu gen tỏ ra hiệu quả hơn, có thể sử dụng sớm ở vật nuôi và cho kết quả ổn định hơn khi môi trường thay đổi.

            Những tiến bộ của di truyền ứng dụng được dùng để chọn lọc các tính trạng số lượng ở vật nuôi dựa trên kiểu hình hay ước lượng các giá trị giống (Estimated Breeding Value-EBV) được thu nhận từ kiểu hình, mà trước đó không biết được những gen hay kiểu gen nào ảnh hưởng lên tính trạng. Di truyền phân tử cho phép nghiên cứu cá thể ở mức độ DNA, chọn lọc trực tiếp các gen ảnh hưởng đến tính trạng quan tâm, hoặc số lượng các locus gen (Quantitative Trait Locus-QTL) quy định tính trạng hoặc chọn lọc các marker di truyền liên kết với QTL. 

 

Read More »

TÓM TẮT

Thông tin chính

Sử dụng SNP (single nucleotide polymorphisms) và haplotypes để xác định vùng giả định của gen mã hóa hàm lượng protein (PC) và protein hòa tan trong nước (SPC) của hạt đậu nành

 

Có bốn loci mã hóa protein “SPC-specific”(hàm lượng protein tan trong nước đặc biệt) đã được xác định, giải thích được 8,5–15,1 % biến thiến kiểu hình, và lý giải tại sao giống đậu nành có hàm lượng PC cao thì SPC thấp.

Read More »

Một số người tiêu dùng, cả người lớn và trẻ em, bị dị ứng với sữa tươi. Chất gì trong sữa tươi đã gây ra tình trạng này? Hai nhà khoa học Erika Jensen-Jarolim và Franziska Roth-Walter (ảnh) của Viện nghiên cứu Messerli tại Vetmeduni Vienna, đại học Y Vienna và Đại học Vienna đã điều tra chất gì thực sự gây ra hiện tượng dị ứng từ sữa.

Các nhà khoa học đã giải đáp được cơ chế của dị ứng từ sữa: một protein trong sữa, đã được biết đến với tên gọi beta-lactoglobulin, có khả năng khởi đầu quá trình dị ứng khi nó không kết nối với sắt. Khi trong tình trạng kết hợp với sắt, protein này sẽ ít tác hại hơn. Cơ chế này tương tự như cơ chế gây dị ứng do phấn hoa của cây bạch dương. Hiện tượng dị ứng với sữa tươi thường bị nhầm lẫn là do sự không dung nạp (của cơ thể người uống sữa) với đường lactose trong sữa. Trong trường hợp của beta-lactoglobulin khi không kết hợp với sắt, sẽ kích thích tế bào bạch cầu (lymphocyte) Th2 trong cơ thể (người uống sữa) sản xuất ra kháng thể IgE chống lại protein beta-lactoglobulin.

Cơ chế của hiện tượng này được giải thích rõ hơn tại

http://www.thedairysite.com/articles/4022/scientists-uncover-why-major-cow-milk-allergen-is-actually-allergenic

 

Nguồn: Scientists Uncover Why Major Cow Milk Allergen is Actually Allergenic

Friday, August 29, 2014

Lược dịch: TS. Chung Anh Dũng

 

Read More »

Sắn hay khoai mì (Manihot esculenta) có thể chống chịu được nhiệt độ cực kỳ lạnh sau khi xử lý kỹ thuật “chilling acclimation” (thích nghi khí hậu lạnh nhân tạo). Ming Peng Weixiong Zhang thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nông Nghiệp Nhiệt đới, Trung Quốc và Đại Học Jianghan University, theo thứ tự, đang tiếp tục thử nghiệm cơ chế thích nghi lạnh theo kiểu này. Cây được xử lý dưới 3 điều kiện khác nhau (14°C), tạo chilling stress sau khi cho thich nghitheo kỹ thuật chilling acclimation (cây sắn qua 5 ngày được xử lý kỹ thuật thích nghi chilling acclimation được chuyển vào buồng nuôi cấy có nhiệt độ 4°C và tạo sốc lạnh (chilling shock) (cho rơi từ nhiệt độ 24°C xuống còn  4°C). Sự thể hiện gen được so sánh với cây đối chứng (sinh trưởng phát triển ở điều kiện bình thường). Kết quả cho thấy kỹ thuật chilling acclimation giúp cây phát triển tốt hệ thống miễn dịch đối với stress lạnh khắc nghiệt hơn nhờ kích hoạt các gen điều khiển việc bảo tồn chất dinh dưỡng giúp nó có khả năng tự vệ tốt.

Xem chi tiết trên tạp chí BMC Plant Biology: http://www.biomedcentral.com/1471-2229/14/207com/1471-2229/14/207

BMC Plant Biology 2014, 14:207  doi:10.1186/s12870-014-0207-5

Lược dịch: Bùi Chí Bửu

Read More »

1 - 10 of 357   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 

 

 

 

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết