Tiếng Việt  English
17 Tháng Chín 2014
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

SÁCH KỸ THUẬT

 

TÀI LIỆU KHUYẾN NÔNG

 

 

 

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Số Người Truy Cập

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

TÓM TẮT

Thông tin chính

Sử dụng SNP (single nucleotide polymorphisms) và haplotypes để xác định vùng giả định của gen mã hóa hàm lượng protein (PC) và protein hòa tan trong nước (SPC) của hạt đậu nành

 

Có bốn loci mã hóa protein “SPC-specific”(hàm lượng protein tan trong nước đặc biệt) đã được xác định, giải thích được 8,5–15,1 % biến thiến kiểu hình, và lý giải tại sao giống đậu nành có hàm lượng PC cao thì SPC thấp.

Read More »

Một số người tiêu dùng, cả người lớn và trẻ em, bị dị ứng với sữa tươi. Chất gì trong sữa tươi đã gây ra tình trạng này? Hai nhà khoa học Erika Jensen-Jarolim và Franziska Roth-Walter (ảnh) của Viện nghiên cứu Messerli tại Vetmeduni Vienna, đại học Y Vienna và Đại học Vienna đã điều tra chất gì thực sự gây ra hiện tượng dị ứng từ sữa.

Các nhà khoa học đã giải đáp được cơ chế của dị ứng từ sữa: một protein trong sữa, đã được biết đến với tên gọi beta-lactoglobulin, có khả năng khởi đầu quá trình dị ứng khi nó không kết nối với sắt. Khi trong tình trạng kết hợp với sắt, protein này sẽ ít tác hại hơn. Cơ chế này tương tự như cơ chế gây dị ứng do phấn hoa của cây bạch dương. Hiện tượng dị ứng với sữa tươi thường bị nhầm lẫn là do sự không dung nạp (của cơ thể người uống sữa) với đường lactose trong sữa. Trong trường hợp của beta-lactoglobulin khi không kết hợp với sắt, sẽ kích thích tế bào bạch cầu (lymphocyte) Th2 trong cơ thể (người uống sữa) sản xuất ra kháng thể IgE chống lại protein beta-lactoglobulin.

Cơ chế của hiện tượng này được giải thích rõ hơn tại

http://www.thedairysite.com/articles/4022/scientists-uncover-why-major-cow-milk-allergen-is-actually-allergenic

 

Nguồn: Scientists Uncover Why Major Cow Milk Allergen is Actually Allergenic

Friday, August 29, 2014

Lược dịch: TS. Chung Anh Dũng

 

Read More »

Sắn hay khoai mì (Manihot esculenta) có thể chống chịu được nhiệt độ cực kỳ lạnh sau khi xử lý kỹ thuật “chilling acclimation” (thích nghi khí hậu lạnh nhân tạo). Ming Peng Weixiong Zhang thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nông Nghiệp Nhiệt đới, Trung Quốc và Đại Học Jianghan University, theo thứ tự, đang tiếp tục thử nghiệm cơ chế thích nghi lạnh theo kiểu này. Cây được xử lý dưới 3 điều kiện khác nhau (14°C), tạo chilling stress sau khi cho thich nghitheo kỹ thuật chilling acclimation (cây sắn qua 5 ngày được xử lý kỹ thuật thích nghi chilling acclimation được chuyển vào buồng nuôi cấy có nhiệt độ 4°C và tạo sốc lạnh (chilling shock) (cho rơi từ nhiệt độ 24°C xuống còn  4°C). Sự thể hiện gen được so sánh với cây đối chứng (sinh trưởng phát triển ở điều kiện bình thường). Kết quả cho thấy kỹ thuật chilling acclimation giúp cây phát triển tốt hệ thống miễn dịch đối với stress lạnh khắc nghiệt hơn nhờ kích hoạt các gen điều khiển việc bảo tồn chất dinh dưỡng giúp nó có khả năng tự vệ tốt.

Xem chi tiết trên tạp chí BMC Plant Biology: http://www.biomedcentral.com/1471-2229/14/207com/1471-2229/14/207

BMC Plant Biology 2014, 14:207  doi:10.1186/s12870-014-0207-5

Lược dịch: Bùi Chí Bửu

Read More »

Phần 3. Ảnh hưởng của kiểu gene H-FABP lên tỷ lệ mỡ giắt

Các kết quả nghiên cứu này cho thấy trong quần thể heo, các nhiễm sắc thể khác nhau đều chứa các QTL ảnh hưởng đến mỡ giắt. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu các QTL có thể thay đổi tùy thuộc vào phương pháp phân tích cũng như cấu trúc di truyền của quần thể khảo sát. Mặc dù, các nghiên cứu đã đưa ra một số quan điểm khác nhau về vị trí QTL trên nhiễm sắc thể, song phần lớn các tác giả đều cho rằng nhiễm sắc thể số 6 chứa một hoặc 2 QTL ảnh hưởng đến biến động di truyền của hàm hượng mỡ giắt trong thăn thịt heo. Như vậy, các vùng QTL trong các nghiên cứu vẫn còn quá rộng để nhận dạng các gene ứng cử. Để giải quyết nhược điểm này nhiều nghiên cứu đã xác định được các gene ứng cử viên. Các gene ảnh hưởng đến thành phần mỡ giắt đã được khám phá, bao gồm H-FABP, A-FABP, ADRP, LERP, MC4R, ADD1, MYOD, trong đó gene H-FABP được quan tâm nhiều nhất.

 

Read More »

Ý nghĩa của nghiên cứu:

Giả thuyết Red Queen cho rằng các gen có chức năng trong phản ứng tự vệ của cây chủ đã tiến hóa để chống lại các ảnh hưởng bất lợi của virus gây bệnh, vì chúng cũng đang trong quá trình tiến hóa nhanh chóng. Cho dù cấu trúc 3D của các phức protein giữa cây chủ và virus đã cung cấp cho chúng ta những hiểu biết vô cùng to lớn về các xung đột ở mức độ phân tử giữa chúng, nhưng thật ra chỉ có một cấu trúc đơn biểu trưng cho một snapshot (kiểu cấu trúc bất chợt nào đó) có tính chất tiến hóa. Tác giả đã giới thiệu những chi tiết cở mức độ nguyên tử của cái gọi là “step-by-step arms race” (nòi virus xếp theo cây phân nhánh từng bước một) giữa protein có tính chất tự tái bản của virus gây bệnh khảm và protein có tính chất ức chế của cây chủ Tm-1, trong đó, sự phát hiện của cây chủ  đối với một phân tử virus (viral molecule), đối với sự xâm nhiễm có tính chất tương hợp của virus (viral adaptive evasion), sự phản ứng chống lại có tính chất tương hợp của cây chủ, và phản ứng chống lại của virus đã được miêu tả khá kỹ thông qua việc xác định những cấu trúc vô cùng phức tạp ấy của những biến thể Tm-1 (Tm-1 variants) và protein của virus. Người ta còn thông qua các phân tích sinh hóa và phương pháp mô phỏng động thái ở mức độ phân tử của các tương tác giữa những protein như vậy.

 

 

Read More »

Phần 2. Vai trò của gen H-FABP trong điều hòa tỷ lệ mỡ giắt.

Phospholipid và triacylglycerol là hai thành phần chính đóng góp vào tỷ lệ mỡ giắt trong thân thịt. Phospholipid là thành phần chính của màng tế bào nên hàm lượng không thay đổi, do đó khi tăng hàm lượng mỡ giắt trong các tế bào sẽ làm tăng hàm lượng mỡ giắt trong các mô cơ (Zheng và Mei, 2009). Đây là cơ sở quan trọng cho việc xác định các gen liên quan đến quá trình di truyền chuyển hóa triacylglycerol và hàm lượng mỡ giắt trong các mô cơ. Nhiều tác giả đã báo cáo rằng gen H-FABP (Heart Fatty Acid-Binding Protein) nằm trên nhiễm sắc thể số 6 là gen ảnh hưởng chính đến quá trình chuyển hóa triacylglycerol qua màng tế bào vào trong cơ (Gerbens và cs, 1997, 1999, 2001; De Vries và cs, 2000; Ovilo và cs, 2000; Cho và cs, 2009).

Read More »

Các nhà khoa học trường Virginia Tech đã phát hiện một “ngôn ngữ” phân tử mới có thể được thực vật sử dụng để giao thiệp, trao đổi một số thông tin di truyền bất thường với nhau, đã mở ra cánh cửa cho một lĩnh vực khoa học mới nhằm khám phá cách thức các thực vật giao thiệp với nhau ở mức độ phân tử.

Đứng đầu nhóm nghiên cứu là Jim Westwood, một giáo sư bệnh học thực vật, sinh lý học trường College of Agriculture and Life Sciences. Westwood nói rằng: “Khám phá hình thức mới lạ này về sự giao thiệp giữa các sinh vật với nhau cho thấy điều này xảy ra với số lượng rất lớn so với những gì mà người ta đã biết. Bây giờ chúng tôi đã phát hiện ra chúng trao đổi tấc cả thông tin này, vậy câu hỏi đặt ra là: Chính xác chúng truyền đạt với nhau cái gì?” 

Nghiên cứu nãy cũng giúp các nhà khoa học có một cái nhìn mới về cách chống lại các loại cỏ dại ký sinh gây hại đến cây lương thực ở một số vùng nghèo nhất thế giới, giúp giải quyết vấn đề khan hiếm lương thực. Westwood kiểm tra mối quan hệ giữa thực vật ký sinh (dây tơ hồng) và hai cây chủ (Arabidopsis và cây cà chua).Để hút nước và dinh dưỡng từ cây chủ, dây tơ hồng sử dụng một phần phụ được gọi là giác mút (haustorium) để xuyên thủng thân cây chủ. Westwood đã phá vỡ một vùng mới trên thân cây sau đó ông ta phát hiện ra, sự tương tác qua lại trong quá trình ký sinh, có sự vận chuyển RNA giữa 2 loài với nhau. RNA phiên mã thông tin thông qua DNA, đó là bản thiết kế tinh vi của sinh vật.

Read More »

Trong báo cáo công nghệ sinh học năm 2014, người ta đã ghi nhận kết quả nghiên cứu và khả năng thị trường. Báo cáo mô tả và đánh giá công nghệ sinh học động vật và những ứng dụng của chúng trong thuốc thú y và bệnh học cũng như thức ăn chăn nuôi. Kết quả này bao gồm nhiều tóm lược của hơn 100 công ty có liên quan đến lĩnh vực công nghệ sinh học động vật, và các hoạt động nghiên cứu của 11 Viện liên quan đến thú y và chăn nuôi. Theo đó, công nghệ sinh học có tiềm năng áp dụng trong quản lý nhiều bệnh tật của gia súc ví dụ như bệnh lỡ mồm long móng (FMD), bệnh sốt của heo (classical swine fever), cúm gia cầm (avian flu), và bệnh bại não bò (bovine spongiform encephalopathy). Sản phẩm nổi bật về biotech là các vaccines, đặc biệt vaccin tái tổ hợp di truyền hoặc DNA vaccines. Liệu pháp gen để trị bệnh gia súc cũng tiến bộ rất đáng kể bởi vì các giải pháp lâm sàng cho người đã được phát triển trên cơ sở vận dụng trên động vật thử nghiệm, hơn nữa có nhiều bệnh của người giống với bệnh của chó, mèo. Thuốc thú y đang được sử dụng trên cơ sở công nghệ phân tử RNA can thiệp.

Xem: http://www.researchandmarkets.com/reports/39075/animal_biotechnology_technologies_markets_and.pdf.

Lược dịch: Bùi Chí Bửu

Read More »

Bộ gen lúa Oryza glaberrima vừa được giải mã toàn bộ genome với sự cộng tác của nhiều nhà khoa học quốc tế, là sự kiện quan trọng trong khoa học cây lúa năm 2014.

Kết quả này cho phép các nhà  khoa học sẽ có điều kiện tốt hơn để chọn tạo giống lúa chống chịu với stress do những khắc nghiệt của môi trường và đối mặt với các thách thức về an ninh lương thực. Glaberrima xuất phát từ chữ “glabrous” có nghĩa là trơn láng, thể hiện ở phiến lá lúa, võ trấu, giúp cây lúa có thể quan hợp trong điều kiện bị ngập do nước đục, lá lúa trơn láng làm các chất lắng đọng khó bám được vào phiến lá. Nó là quá trình tiến hóa từ Oryza longistaminata, O. barthii, O. brevigulata để trở thành lúa trồng Châu Phi Oryza glaberrima, với sự đa dạng di truyền tuyệt vời.

 

Read More »

Sử dụng tinh giới tính có nhược điểm là tỷ lệ thụ thai thấp hơn so với tinh bình thường (Seidel, 1999 Sartori và cs, 2004; Seidel and Schenk, 2008). Một trong những nguyên nhân là do nồng độ tinh trùng trong tinh giới tính khá thấp, khoảng 1,5-2,0 triệu tinh trùng/liều tinh, trong khi nồng độ tinh trùng trong tinh bình thường là khoảng hơn 10 triệu/liều tinh. Tuy nhiên, khi nâng số lượng tinh trùng (đã phân tách X và Y) trong 1 liều tinh dịch ngang bằng với loại tinh không phân tách thì tỷ lệ thụ thai đã được cải thiện đáng kể (khoảng 60-80% so với sử dụng tinh dịch không phân tách) (Seidel, 1999; Doyle và ctv, 1999). Ngoài ra, nhược điểm này còn là do khả năng sống của tinh trùng trong tinh giới tính đã bị giảm thấp do quá trình phân tách (Seidel và Garner, 2002) và sau khi bảo quản đông lạnh sâu (Schenk, 1999). Một số yếu tố giúp cải thiện tỷ lệ thụ thai khi sử dụng tinh giới tính trong gieo tinh nhân tạo là:

 

Read More »

1 - 10 of 350   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 

 

 

 

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết