Tiếng Việt  English
25 Tháng Mười 2014
  |  Đăng Nhập
 Ngày Tháng
Đóng

 Tìm Kiếm
Đóng

SÁCH KỸ THUẬT

 

TÀI LIỆU KHUYẾN NÔNG

 

 

 

 

 Lượt Truy Cập
Đóng

Số Người Truy Cập

PHÒNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC

Chào mừng các Bạn đến với Website của Phòng Công Nghệ Sinh Học - IAS

Trang Chủ Giới Thiệu Liên Hệ
CNSH Động Vật CNSH Thực Vật Hợp Tác - Dịch Vụ

 Bản Tin
Đóng

Một số nội dung khoa học

 Công nghệ sinh học nông nghiệp của Mã Lai tập trung vào 3 lĩnh vực chính: CNSH thực vật, CNSH động vật và CNSH thực phẩm. Ba trụ cột được xác định là chính sách công nghệ sinh học quốc gia (NBP); những sáng kiến trong chọn tạo giống cây trồng; và tăng cường cơ hội và phương tiện cho ABI (Viện nghiên cứu CNSH nông nghiệp quốc gia).

            Công nghệ nền trong chọn tạo giống mới được giới thiệu với 3 nội dung (1) nhiễm sắc thể nhân tạo “mini” của thực vật; (2) “genome editing” (một dạng của công nghệ di truyền, trong đó phân tử DNA được chèn đoạn, được thay thế, hoặc bị lấy ra từ một genome nào đó bằng thao tác công nghệ sử dụng nuclease nhân tạo hoặc kỹ thuật cắt xén ở mức độ phân tử - molecular scissors); (3) “gene stacking” (sự kiện chuyển gen thành công).

            Mã Lai khởi động nhiều nội dung TILLING (target induced local lesions IN genome) trên các loài cây trồng chủ yếu, như một công cụ quan trọng để xác định chức năng gen trong chiến lược di truyền ngược (reverse genetics)

            Mã Lai hoạch định sẽ tự túc lúa gạo vào năm 2020 (hiện nay họ tự sản xuất đáp ứng 60-70% nhu cầu). Họ đã hợp tác với chuyên gia Trung Quốc về lúa lai (Dr Chen Jun Xing).

            Chiến lược bảo vệ giống cây trồng mới phải đáp ứng xu hướng chuyển đổi sang hình thức thị trường tập trung và hợp nhất (integrated and centric market model), với 4 nội dung cốt yếu (chị Norunnuha Nawawi báo cáo):

1.      Đầu tư vốn cho những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh

2.      Xây dựng thị trường có ưu thế (premium markets)

3.      Sắp xếp lại mục tiêu an toàn lương thực trên cơ sở phải gia tăng hiệu quả GNI

4.      Góp phần tích cực vào chuỗi giá trị vùng (ETP 2003 – economic transfomation program)

Việc làm này tương tự như nội dung tái cơ cấu lại nền nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Họ thảo luận về đạo luật giống cây trồng mới (PVP). Giai đoạn 2008-2013, Mã Lai  cho phép công nhận 152 giống cây trồng mới từ các ĐH, Viện nghiên cứu của Chính Phủ và Tư nhân, Công ty quốc tế. Mã Lai đang thực hiện chiến lược “Tăng cường kiến thức thực hành trong chọn tạo giống cây trồng hiện đại.

 

Read More »

Phần 3. Một số giải pháp kỹ thuật  

       Các giải pháp của cả nước 

      Về giống: (1) Chọn lọc, loại thải những bò sữa có năng suất thấp, sinh sản kém, chất lượng giống xấu. (2) Tiếp tục nhập khẩu nguồn gen bò sữa có năng suất, chất lượng cao (bò đực giống, tinh và phôi bò cao sản, phân biệt giới tính). (3) Xây dựng hệ thống quản lý giống bò (giám định, bình tuyển, theo dõi gia phả, năng suất, quản lý phối giống…) thống nhất trên toàn quốc. 

Về thức ăn: (1) Sử dụng thức ăn hoàn chỉnh TMR cho bò sữa (2) Tăng sản xuất thức ăn thô xanh cho bò sữa bằng cách chuyển đổi những diện tích trồng kém hiệu quả (3) Tăng cường sử dụng phụ phế phẩm công-nông nghiệp trong khẩu phần ăn bò sữa.

Về chuồng trại: (1) Áp dụng kiểu chuồng chống nóng và ẩm để giảm stress lên bò sữa (2) Tăng cường vệ sinh môi trường chuồng trại, áp dụng các công nghệ xử lý môi trường. 

 

Read More »

Seminar Quốc tế lần thứ Hai về giống cây trồng được tổ chức vào ngày 14-15 tháng 10 năm 2014 tại Khoa Nông Nghiệp, Đại Học PUTRA Malaysia, Serdang, Selangor, Malaysia (theo qui định 2 năm một lần). Đồng tổ chức Seminar này là Hội Di Truyền Mã Lai, Viện Công Nghệ Sinh Học Nông Nghiệp Mã Lai, Viện Nông Nghiệp Nhiệt Đới UPM, Khoa Cây Trồng và Công Nghệ Nông Nghiệp UiTM, với sự tài trợ của Nuclear Malaysia, SABRAO, MARDI, FRIM, MPOB, Tập đoàn Ca Cao Mã Lai, LGM (Malaysia Rubber Board).

Chủ đề của Seminar là: “CHIẾN LƯỢC CHỌN TẠO GIỐNG TIẾN BỘ TRONG CẢI TIẾN GIỐNG CÂY TRỒNG”.

Đây là sự kiện tiếp nối Seminar quốc tế lần thứ nhất đã được tổ chức vào ngày 1-7-2012 (thời gian 3 ngày). Seminar năm 2014 có tổng số 180 người tham dự, bao gồm 47 nhà khoa học ở ngoài nước, với 30 báo cáo viên được mời, còn lại là các nhà khoa học của Mã Lai. Thành viên ngoại quốc đến từ: Bangladesh, Trung Quốc, Czech, Indonesia, Kazakhstan, Nigeria, Pakistan, Taiwan, Thái Lan, Việt Nam. Có 35 báo cáo trên hội trường và hơn 60 poster. Các thành viên quốc tế được bố trí nghỉ tại Khách Sạn Nangi-Putrajaya, Selangor Darul Ehsan.

 

Read More »

Phần 2. Những khó khăn về kỹ thuật - Sinh sản kém

Khả năng sinh sản trên đàn bò sữa hiện nay là khá kém: tuổi phối giống lần đầu cao, biến động lớn (16-36 tháng), khoảng cách giữa 2 lứa đẻ kéo dài (14-18 tháng), hệ số phối đậu cao (2,5-3,0 phối giống/thụ thai), tỷ lệ bò chậm sinh, vô sinh tạm thời cao do: rối loạn hormone sinh sản trong chu kỳ động dục,  buồng trứng kém phát triển do tác động dinh dưỡng (mất cân bằng giữa cung và cầu), trong chăm sóc nuôi dưỡng, viêm nhiễm đường sinh dục do môi trường chăn nuôi… Xu hướng ngày càng gia tăng với tốc độ tăng năng suất sữa/ chu kỳ và việc sử dụng thức ăn tinh/thô mất cân đối trong quá trình chăn nuôi cũng như phương thức chăn nuôi tại chuồng. Trong điều kiện chăn nuôi ở các trang trạo với quy mô “lớn” có kiểm soát, tình hình sinh sản được cải thiện hơn nhưng vẫn nằm trong mức cao so với chăn nuôi trong khu vực và trên thế giới.

Tổng hợp: TS. Chung Anh Dũng

Tiếp theo: Những giải pháp kỹ thuật

Read More »

Phần 2. Những khó khăn kỹ thuật - Năng suất thấp

Trên toàn quốc, sản lượng sữa trung bình của đàn bò sữa hiện nay vẫn khá thấp, đạt mức khoảng 5.600kg/con/năm đối với bò HF thuần và khoảng 4.300kg/con/năm đối với bò lai HF. Trong suốt giai đoạn 2001-2013, nhìn chung sản lượng sữa của đàn bò cái vắt sữa tăng trung bình hàng năm khoảng 2,56%.

Tại TPHCM, sản lượng sữa trung bình (kg/con/năm) của đàn bò sữa là 5.500 kg/con/năm. Trong suốt giai đoạn 2005-2013, nhìn chung sản lượng sữa của đàn bò cái vắt sữa tăng trung bình hàng năm khoảng 1,97%. Đàn bò sữa tại TPHCM chủ yếu là bò lai HF với tỷ lệ máu lai khá cao

Read More »

 Phần 2. Những khó khăn về kỹ thuật - Tăng đàn chậm

 Theo “Chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011- 2020” (Kèm theo công văn số 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), phấn đấu phát triển đàn bò sữa qua các năm trong giai đoạn từ 2010-2020 đạt tốc độ tăng đàn trung bình hàng năm là 23,44%, để đến năm 2020 có khoảng 500.000 con bò sữa trên toàn quốc. Tuy nhiên, dự báo này đã không thể thực hiện được. Tính đến cuối năm 2013, tổng đàn bò sữa chỉ mới đạt 186.390 con, và tốc độ tăng đàn trung bình hàng năm trong suốt giai đoạn 2006-2013 chỉ đạt mức 9,23%. Vì vậy, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã điều chỉnh chỉ tiêu phấn đấu của tổng đàn bò sữa đến năm 2020 còn 300.000 con.

 

Read More »

Phần 2. ỨNG DỤNG VÀ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA MÃ VẠCH DNA

Những ứng dụng của mã vạch DNA không chỉ nhận diện nhanh các mẫu mà còn mở rộng nghiên cứu sắp xếp theo nhóm những bí ẩn, còn mơ hồ hoặc những loài phức tạp. Trong hệ sinh thái, mã vạch DNA rất hữu ích trong việc tìm mối quan hệ giữa các mẫu mặc dù chúng hầu như không giống nhau về hình thái. Phân tích sinh thái học ở thực vật đang diễn ra mạnh mẻ để hiểu được chế độ dinh dưỡng hoặc hướng di cư của động vật.

Mã vạch DNA cũng được ứng dụng tại hải quan nhằm hỗ trợ việc xác định nguồn gốc của sinh vật sống hoặc hàng nhập khẩu, để ngăn cản sự vận chuyển trái phép các loài thực vật và động vật quý hiếm qua biên giới. Trong lĩnh vực pháp y, chỉ cần một lượng mẫu nhỏ, thậm chí bị vài biến biến dạng cũng có thể giúp cảnh sát truy tìm nguồn gốc. Gần đây, cơ sở dữ liệu mã vạch DNA của chó đã được các sở pháp y của nhiều quốc gia sử dụng nhằm hỗ trợ công việc của họ. (Steinke et al., 2009) 

Read More »

    Phần 1. Định hướng phát triển chăn nuôi bò sữa trên toàn quốc

Theo đề án “Tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” do Bộ Nông nghiệp ban hành ngày 09/05/2014, các chỉ tiêu phấn đấu cho ngành chăn nuôi bò sữa đến năm 2020:

-         Tổng đàn bò sữa đạt 300.000 con, đã điều chỉnh giảm 200.000 con so với Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16/01/2008.

-         Tổng sản lượng đạt hơn 0,9 triệu tấn, tăng trưởng bình quân trên 11% năm.

100% bò sữa được nuôi theo hình thức trang trại và chăn nuôi công nghiệp, chỉ phát triển chăn nuôi bò sữa ở những vùng truyền thống và có khả năng đầu tư công nghệ cao.

 

Read More »

TÓM TẮT

Nguyên tắc cơ bản: Rầy nâu (Nilaparvata lugens) là một trong những côn trùng gây hại nghiêm trọng bậc nhất cho sản xuất lúa ở Châu Á. N. lugens gây ra thiệt hại bằng cách chích hút nhựa cây lúa tạo ra hiện tượng cháy rầy (làm cây lúa chết rụi). Mặc dù tầm quan trọng như vậy, nhưng người ta biết rất ít cách thức nó tiêu hóa thức ăn như thế nào, cơ chế phát triển và tự vệ như thế nào của loài côn trùng cánh đều này. Các tác giả nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích phân lập được các gen mã hóa protein serine protease (SP) và serine protease homolog (SPH). Chúng tạo nên một họ khá lớn trong sinh vật eukaryotes, do khả năng biểu hiện nhiều vai trò sinh lý của chúng. Nếu chúng ta có đầy đủ dữ liệu về giải mã trình tự đầy đủ của bộ gen con rầy nâu N. lugens, điều ấy sẽ cho phép chúng ta thực hiện chính xác  những phân tích sâu về cấu trúc của gen, hiểu được mối quan hệ có tính chất tiến hóa và dự đoán được những chức năng sinh lý của họ gen SP.

 

Read More »

          Phần 1. Khái niệm mã vạch DNA

Khái niệm mã vạch DNA được Paul Heber, nhà nghiên cứu tại Đại học Guelph, Ontario đưa ra lần đầu tiên vào năm 2003, nhằm giúp nhận diện các mẫu vật (Hebert, 2003). Mã vạch DNA sử dụng một trình tự DNA ngắn nằm trong geneome của sinh vật như là một chuỗi ký tự duy nhất giúp phân biệt hai loài sinh vật với nhau, nó tương tự như máy quét trong siêu thị đọc hai mã vạch của hai sản phẩm mà nhìn bên ngoài chúng rất giống nhau nhưng thực sự là khác nhau. Như vậy mã vạch DNA là một phương pháp định danh mà nó sử dụng một đoạn DNA chuẩn ngắn nằm trong bộ genome của sinh vật đang nghiên cứu nhằm xác  định sinh vật đó thuộc về loài nào.

Đến nay, các mẫu sinh vật vẫn thường được nhận diện bằng các đặc tính hình thái bên ngoài hoặc các đặc tính sinh lý sinh hóa bên trong nhờ vào bảng hướng dẫn định danh có sẵn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, mẫu vật chưa phát triển đầy đủ các đặc tính hình thái, hoặc chúng bị hư hỏng các bộ phận ngoài, hoặc mẫu vật chết đã khiến quá trình nhận diện mẫu vật trở nên khó khăn thậm chí là không thể. Trong những trường hợp này mã vạch DNA đã giúp giải quyết bài toán trên vì trình tự DNA dễ dàng thu nhận từ một mẫu mô bé xíu. Hơn nữa, mã vạch DNA còn đóng góp thêm một ý nghĩa khác ngoài ý nghĩa giúp định danh mẫu vật, nó còn giúp quá trình phân tích tiến hóa sinh học của loài vật đó trong tự nhiên.

Tổng hợp: ThS. Trương Quốc Ánh 

Read More »

1 - 10 of 367   
First  |  
< Previous  |  
Next >  |  


 Chuyên Mục
Đóng

 Đơn Vị Tài Trợ
Đóng

 

 

 

 

 Thành Tích
Đóng

Đánh giá những thành quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng TBKT vào phát triển sản xuất nông nghiệp và nông thôn, Viện đã được Nhà nước và các tổ chức tặng thưởng:

Huân chương Độc lập:
- Hạng 2
- Hạng 3

Huân chương Lao động:
- Hạng 1
- Hạng 2
- Hạng 3

Giải thưởng Nhà nước
- Nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn gia súc (2005)
- Nghiên cứu chọn tạo và phát triển giống lúa mới cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa (2005)

Giải thưởng VIFOTEC:
- Giống ngô lai đơn V2002 (2003)
- Kỹ thuật ghép cà chua chống bệnh héo rũ vi khuẩn
(2005)

 Website Liên Kết