Từ thực trạng trên, Viện KHKT Nông nghiệp miền Nam đã xác định cần phải có một đề tài nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc để giải quyết vấn đề này. Đề tài đã được tiến hành trong gần 3 năm (2004-2006), nhằm mục đích xác định hiện trạng và nguyên nhân gây bệnh, từ đó đề ra được biện pháp phòng trị một số bệnh sinh sản chủ yếu và bệnh viêm vú để góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa.
Kết quả điều tra tổng quát được trình bày ở bảng 1 cho thấy: có 4369 cái sinh sản trên tổng đàn 7454 con, nuôi ở 715 hộ tại 9 tỉnh thành, đã được điều tra . Trong cơ cấu đàn có 40,2% là cái vắt sữa và 57,7% cái sinh sản là tỷ lệ hợp lý để bảo đảm cho người chăn nuôi có thu nhập. Bình quân số bò/hộ là 10 con và có hơn 6 con cái sinh sản.
Tỷ lệ bệnh viêm vú lâm sàng ở bò sữa trung bình là 12,3%, dao động từ 4,9% - 19,0% tùy khu vực (bảng 2). Đây là những trường hợp bò bệnh viêm vú có một trong số các biểu hiện ra ngoài như: sữa tủa, tắt sữa, vú sưng nóng đỏ đau, vắt không đủ 4 thùy, sữa lợn cợn, sữa có mủ. Đối với bệnh viêm vú bò sữa, kết quả điều tra trong nước đã báo động tình trạng này. Tỷ lệ bò bị viêm vú khá cao, biến động từ 10 - 22% (Trịnh Quang Phong và ctv, 1999) và từ 24,8 - 31,43% (Nguyễn Ngọc Nhiên và ctv, 1996 - 1999), cao hơn nhiều so với các nước khác (£12%). Tỷ lệ bò viêm vú vào mùa mưa là 11,6% và mùa khô là 12,9%, sự sai khác không ý nghĩa (P>0,05) cho thấy không có ảnh hưởng rõ của mùa vụ lên tình trạng bệnh viêm vú bò sữa.
Tuy nhiên, khi sử dụng MPHVV trên 910 thùy vú của 241 bò sữa ở 6 trại bò khác nhau, kết quả cho thấy có đến 20,5% số thùy vú và 46,5% số bò kiểm tra bị VVCLS. Trong khi đó, tỷ lệ bò bị viêm vú lâm sàng ở 6 trại này chỉ là 6,6% (bảng 3).
Như vậy, theo kết quả này trung bình cứ 7 ca VVCLS sẽ có 1 ca viêm vú được thể hiện ra ngoài (lâm sàng). Đây là một tỷ lệ quá cao, trong khi ở các nước khác phải từ 15 – 40 ca VVCLS mới có 1 ca viêm vú lâm sàng. Điều này là do ở các nước đó đều có chương trình quản lý bệnh VVCLS rất tốt và đã ngăn chặn hiệu quả sự phát triển của bệnh viêm vú. Từ kết quả này cũng cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng một chương trình quản lý bệnh viêm vú trên toàn quốc. Với tỷ lệ xuất hiện từ VVCLS sang lâm sàng như trên (7:1), có thể ước đoán tỷ lệ bò sữa bị VVCLS ở Việt Nam hiện nay khoảng trên 70%. Nguyễn Văn Phát và ctv (2004) khi sử dụng CMT để đánh giá tình trạng VVCLS ở bò sữa nuôi tại khu vực TPHCM cũng cho kết quả 75,2% - 84,3% bò khảo sát bị VVCLS.
Vì MPHVV lần đầu tiên được sử dụng tại Việt Nam, nên trong đề tài này, chúng tôi phải thử nghiệm mức độ hiệu quả của thiết bị này. Chúng tôi đã sử dụng MPHVV trên 405 thùy vú của 109 con bò sữa ở 2 trại khác nhau, và so sánh kết quả này với xét nghiệm Leucocytest. Kết quả cho thấy: tỷ lệ bò viêm vú lâm sàng là 11%, tỷ lệ bò viêm vú với Leucocytest là 43,1% và tỷ lệ bò viêm vú với MPHVV là 59,6%. Nhiều trường hợp thùy vú được đánh giá là bị VVCLS với MPHVV nhưng với xét nghiệm Leucocytest chỉ là nghi ngờ (1+). Xét nghiệm Leucocytest (hay CMT) đòi hỏi kỹ thuật viên phải có kinh nghiệm thật tốt để đánh giá (bằng mắt) mức độ viêm thông qua sự thay đổi màu sắc và độ nhầy của dung dịch (giữa sữa và thuốc thử). Vì vậy sẽ có nhiều sai sót. Trong khi đó, MPHVV lại khắc phục hoàn toàn yếu điểm trên vì kết quả chỉ dựa vào sự thay đổi điện trở của sữa bình thường và sữa bị viêm.
Phần 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm vú bò sữa