Ảnh hưởng của việc sử dụng vắc xin phòng PRRS: Tỷ lệ tổng số hộ tuyên bố có sự hiện diện của PRRS đã giảm nhẹ từ 62% (2008) xuống còn 58% (2009). Điều này nhờ việc sử dụng vắc xin tiêm phòng đã tăng từ 25% (2008) lên 44% (2009). Tuy nhiên, vùng Bắc Anglia đã giảm tỷ lệ hộ có sự hiện diện của PRRS ở mức thấp hơn vùng Đông Bắc (28% so với 68% tương ứng), nhờ 70% số hộ vùng này đã tự nguyện tiêm phòng vắc xin PRRS cho đàn heo của mình.
Ảnh hưởng của mục đích nuôi: kết quả khảo sát cho thấy trong số các trại có mục đích nuôi khác nhau như: trại giống, giống-heo con theo mẹ, heo sau cai sữa – heo thịt, heo thịt, trại nuôi heo giống có tỷ lệ nhiễm PRRS cao nhất (khoảng 70%) và thấp nhất là trại nuôi heo thịt (khoảng 50%). Kinh nghiệm cho thấy: virus PRRS có thể chết sạch ở những trại không nuôi heo sinh trưởng, bởi vì mầm bệnh không có điều kiện lưu cữu từ giai đoạn này sang giai đoạn khác trong quá trình sinh trưởng và trong qua trình luân chuyển đàn. Ngoài ra, trại nuôi heo sau cai sữa cũng có tỷ lệ nhiễm PRRS cao hơn hẳn so với trại nuôi heo thịt.
Ảnh hưởng của quy mô đàn trong trại: các trại được chia thành nhiều nhóm quan sát khác nhau dựa vào quy mô đàn như 1-1000 con/trại, 1001-2000 con/trại, 2001-4000 con/trại, 4001-8000 con/trại và lớn hơn 8000 con/trại. Kết quả cho thấy quy mô đàn từ 1000 con/trại trở xuống có tỷ lệ nhiễm PRRS thấp nhất (khoảng 49%) và tỷ lệ nhiễm tăng dần theo quy mô đàn, cao nhất ở những trại với quy mô 4001-8000 con/trại.
Ảnh hưởng của hệ thống quản lý: kết quả khảo sát cho thấy trại sử dụng rơm lót chuồng có tỷ lệ nhiễm PRRS (khoảng 54%) thấp hơn hẵn so với trại sử dụng ván gỗ lót nền chuồng (khoảng 72%); Những đàn heo được nuôi ngoài trời bị nhiễm PRRS cao hơn nuôi nhốt trong chuồng (68% so với 62% tương ứng).
Lược dịch: TS. Chung Anh Dũng
Nguồn NADIS BPEX Commentary – December 2009 – PRRS – công bố January 2010
National Animal Desease Information Service (NADIS)