01/05/2012 10:09 SA

Trong khi đang tranh luận về vai trò epigenetics, dường như nó vẫn chưa đóng góp nhiền cho lĩnh vực di truyền trên gia súc. Bài viết của Oscar Gonzalez Reico từ Instituto Nacional de Investigación y Tecnología Agraria y Alimentaria, Tây Ban Nha, sẽ cung cấp thêm thông tin về lĩnh vực này.
Di truyền trên gia súc đang trải qua kỷ nguyên của genomic với hàng loạt các tiến bộ trong kỹ thuật DNA. Ví dụ như số lượng khổng lồ các thông tin về bộ gen (thông qua kỹ thuật micro-array giúp chúng ta biết cùng lúc tính đa hình của hơn 500.000 nucleotide đơn trên bộ gene bò) đã được kết hợp vào trong việc dự đoán phẩm chất di truyền (của gia súc) với độ chính xác cao hơn (Van Raden et al., 2008).
Read More »
|
25/04/2012 11:16 SA

Phần 2. Tình hình dịch bệnh LMLM trên thế giới và khu vực
Trong năm 2010, theo số liệu của Tổ chức Thú Y Thế giới OIE, có tổng cộng 716 ổ dịch LML xảy ra trên 21 quốc gia thuộc châu Phi và châu Á. Tổng cộng có 211.445 con bò, 31.218 gia súc nhai lại nhỏ (dê, cừu…) và 315.460 con heo bị phơi nhiễm trước virus LMLM. Trong số đó, số gia súc thực sự nhiễm LMLM là 11.999 con bò, 20.091 gia súc nhai lại nhỏ (dê, cừu…) và 13.954 con heo. Số gia súc bị chết và tiêu hủy do LMLM là 53.624 con bò, 21.513 gia súc nhai lại nhỏ (dê, cừu…) và 304.346 con heo. Trong số 716 ổ dịch này, chủ yếu là nhiễm virus LMLM serotype O (93%), mỗi loại serotype A, Asia và SAT2 chỉ chiếm 2% và thấp nhất là serotype SAT1 với 1%. Trong tháng 04/2012, đã có một số nước thông báo có dịch LMLM trên gia súc, bao gồm: Nga, Nam Phi, Libya, Botswana, Palestine, Đài Loan (Đài Bắc, 11/04/2012, trong đó có 4 ca bệnh trên 3.055 heo bị mẫn cảm LMLM)…
Read More »
|
23/04/2012 7:19 SA

Phần 1. Virus FMD
Bệnh LMLM (FMD, Foot and Mouth Disease) là một bệnh xảy ra trên toàn cầu, ảnh hưởng đến sản xuất và thương mại ở những vùng có dịch, và cần được đầu tư mạnh để ngăn ngừa và giám sát ở những vùng đang có dịch. Theo OIE, Tổ chức Thú Y Thế giới, bệnh LMLM là bệnh truyền nhiễm trên hầu hết các loài hữu nhủ và có khả năng gây tổn thất kinh tế nghiênm trọng trên những loài mẫn cảm (2010). Bệnh LMLM gây ra bởi virus FMD, thuộc họ Picornaviridae, nghĩa là virus (có cấu trúc) RNA nhỏ nhất trong số các virus gây bệnh trên động vật. Có khoảng 7 chủng huyết thanh (serotype) của virus FMD được đặt tên là O, A, C, SAT 1, SAT 2, SAT 3 và Asia1, nhưng có chủng phụ được phân biệt bằng miễn dịch học và huyết thanh học, chúng có độc lực khác nhau.
Read More »
|
16/04/2012 7:31 SA
Các nghiên cứu về khả năng chứa của tử cung và kích thước ổ đẻ trên heo cho thấy thụ thể erythropoietin (EPOR) đóng một vai trò quan trọng trong sự tồn tại của bào thai thông qua sự trưởng thành của tế bào máu đỏ. Nghiên cứu này đã tìm thấy và xác định có ba đa hình đơn nucleotide (SNPs) đột biến ở gen EPOR: hai đột biến nhầm nghĩa và một đột biến đồng nghĩa. Nhóm nghiên cứu đã đánh giá kiểu gen của 272 heo nái giống Beijing Black và so sánh dữ liệu này với kích thước ổ đẻ của 1523 heo nái.
Read More »
|
11/04/2012 9:27 SA
Trong loạt bài bình luận trên (tạp chí) Nature, các nhà kinh tế học đã đề xuất một số cách làm giảm chi phí cho các nghiên cứu lý thuyết kém hiệu quả, nhưng các nhà nghiên cứu lại không tin rằng khoa học nên được quản lý theo kiểu kinh doanh. Ngày nay, các viện nghiên cứu lý thuyết đang tìm cách tăng đầu tư cho nghiên cứu, trong khi các nhà quản lý và kinh tế cho rằng đang tồn tại nhiều vấn đề bất cập trong hệ thống (nghiên cứu) này và đề nghị cần thay đổi nó. Tuần rồi, tạp chí Nature đăng 3 bài bình luận của các tác giả khác nhau về hiệu quả trong nghiên cứu.
Read More »
|
09/04/2012 7:15 SA

Chương trình này có thể giúp tiết kiệm đến 55 đô la (tương đương 1.100.000 đồng) chi phí thức ăn để nuôi một con bò trong một năm, theo báo cáo của TS. John Basarab, trường Đại học Alberta, trình bày tại Hội thảo của Những nhà chăn nuôi bò Anh quốc năm 2012.
Ông nhấn mạnh, hiệu quả sử dụng thức ăn là yếu tố then chốt trong chăn nuôi bò thịt, vì nó chiếm từ 50-70% giá thành. Thực tế là hai phần ba năng lượng cung cấp từ khẩu phần được sử dụng để duy trì cơ thể. Do đó, điều cần thiết là làm giảm nhu cầu duy trì của cơ thể.
Read More »
|
02/04/2012 7:35 SA

Để tìm hiểu sự tiến triển và bộ gene của những vi khuẩn có từ tính, hai nhà khoa học, Pamela Silver (Giáo sư sinh học của Viện Ứng dụng Sáng tạo Sinh học Wyss) và Kewiji Nishida đã tạo ra loại nấm men có từ tính. Khi được hỏi tại sao và làm thế nào để tạo ra loại nấm nen có từ tính, giáo sư Silver đã trả lời rằng “Tôi luôn quan tâm đến việc đưa các vật khác nhau vào trong cơ thể sinh vật để chúng có thể hoạt động như một cảm biến báo hiệu các môi trường (hoạt động) khác nhau. Ví dụ chúng có thể cảm nhận ánh sáng, hóa chất nhưng để có từ tính phải để cho chúng tương tác với các thiết bị. Ngoài ra, từ tính hóa cũng chưa được nghiên cứu rộng rãi.
Read More »
|
26/03/2012 7:17 SA
(c) Xác định giới tính của tinh trùng và phôi: trong tự nhiên, nuôi bò thịt thích có bê đực hơn vì khả năng tăng trọng cao, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn, ngược lại, trong chăn nuôi bò sữa lại thích bê cái hơn vì chúng mới sản xuất sữa. Vì vậy, phương pháp xác định giới tính của phôi và tinh trùng đã được phát triển để có thể kiểm soát giới tính của thế hệ sau. Vì tinh trùng mang nhiễm sắc thể X có nhiều hơn 3,8% DNA so với tinh trùng mang NST Y, nên tinh trùng trong tinh dịch có thể phân tách ra riêng dựa vào hàm lượng DNA của chúng thông qua thiết bị phân loại tế bào (Flow cytometer).
Read More »
|
19/03/2012 7:14 SA
PIT-1 (Pituitary –specific transcription factor – yếu tố phiên mã đặc hiệu ở tuyến yên) là một gene trong họ gene mã hoá cho các protein đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của cơ thể 1. PIT-1 đóng vai trò như một gene điều hoà các hormone sinh trưởng như GH ở mức độ mRNA, prolactin 2-5, thyrotrophin β subunit ở tuyến yên 6, 7 và gene GHRH (Growth hormone releasing hormone) 8. Do vậy, PIT-1 đã được khuyến cáo như 1 gene ứng viên (candidate gene) trong việc chọn giống heo.
Read More »
|
12/03/2012 7:06 SA
(b) Kỹ thuật thu trứng trên buồng trứng (Ovum Pick Up – OPU) bò sống là một kỹ thuật không phẫu thuật, được thực hiện trên người vào cuối thập niên 1980s, bằng cách sử dụng một kim chuyên dụng với sự hướng dẫn của siêu âm để chọc hút trứng từ trong nang noãn trong nhiều giai đoạn tuổi khác nhau (Van Wagtendonk-de Leeuw, 2005). Sau khi chọc hút, trứng thu được sẽ được sử dụng cho quá trình sản xuất phôi in vitro. Việc ứng dụng kết hợp OPU và IVP là nhằm xử lý những bò cái cao sản nhưng vô sinh để phục vụ cho ET thương mại nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình giống bò.
Read More »
|